Blogs: NTU và tôi

Mấy dòng tản mạn về làng quê thời sơ tán - Phần 2 "Về một miền Ký ức"

Viết tiếp về Đông Phòng vào ngày 13/02/2008

Bẵng đi gần 40 năm, mấy tháng nay tôi đã hai lần đặt gót đến Đông Phòng. Mãi hôm nay về, cái tên xã Ngọc Long thay cho Tiến Thắng tôi mới nhớ nổi, vì hai chữ Tiến Thắng đã hằn sâu với ký ức một thời, không muốn sẵn sàng bị đẩy đi khi có những gì định chiếm chỗ.

          Câu chuyện hôm nay cũng lại bắt đầu từ gia đình cụ Miến. Đỉnh, con út của cụ thì đã mất rồi. Cái cậu con trai tốt bụng nhưng đôi khi cáu cẳn ấy sinh thời luôn thiện cảm với tôi, dù theo cách của mình. Đỉnh cưới vợ hơi sớm, trước khi tôi rời Đông Phòng. Cụ Miến còn có người con tên là Tinh, hình như cùng tuổi với tôi. Lúc tôi ở đó anh Tinh đã đi bộ đội, anh về thì tôi đã không còn ở Đông Phòng nữa. Tôi không biết anh Tinh, nhưng con anh ấy thì tôi biết. Cháu Loan con anh tình cờ lại vào công tác tại Bộ Thủy sản, vụ Hợp tác hóa, và nhờ cháu tự giới thiệu mới biết, cháu cũng cho tôi biết rằng anh chị Đĩnh, chị Thủy và bà con Đông Phòng hay nhắc đến tôi.

          Lần về Đông Phòng này của tôi là sau tết âm lịch Mậu Tý. Tôi dừng xe ngay chỗ giếng làng trước nhà anh chị Đĩnh. Cái giếng này trước đây với tôi nhiều kỷ niệm lắm. Vào mùa hè, đạp xe từ Hà Nội về muộn tôi hay lặn hụp ở đây. Bây giờ nơi này có một tượng thờ Quan Âm cao ngất, từ đường 200 đã nhìn thấy. Nhà anh Đĩnh gần đó.

Tượng Quan Âm trước làng Đông Phòng

Tượng Quan Âm trước làng Đông Phòng        

Như lần trước, tôi gặp anh chị Đĩnh tại nhà. Anh hiện đã 80 tuổi, hơn chị 6 tuổi. Anh chị thân thiện với tôi như thằng em trong nhà, bắt ăn cơm nhưng tôi không ở lại lâu được, thế là có gì anh cũng mang ra thết ngay, gọi cả Hán sang, gọi Hằng, con anh chị từ Đống Vàng về. Thật vui vẻ với sự hội ngộ này. Tôi thấy anh chị hài lòng lắm. Anh ngỏ ý cho tôi một cây đa cảnh anh trồng trong vườn trước nhà, tôi thích mà không mang về được. Hằng mang tặng chú hai cây giò tết. Nhà cháu sản xuất giò chả mà!

          Tôi đến nhà bà Phan lâu nhất, Hán đưa tôi từ nhà anh Đĩnh về. Cái ngõ vào thì khác trước, sát ngõ là một cái chòi (gọi là tum cũng được) tầng 2 nhô lên, phần còn lại của cái nhà ba gian thì vẫn vậy. Cây sung bờ ao ngày nào thì bị đốn đi rồi. Vào nhà, tôi lặng đi vì mọi ký ức ào trở lại, những ký ức tôi đã kể trong bài Về Tiến Thắng rồi.

          Tuy nhiên cũng nhắc lại một chút: Bà Phan, chắc cũng tầm tuổi mẹ tôi, nhưng thời ấy, lúc nào cũng gọi tôi là ông giáo và hay xưng cháu với tôi và anh Phương, mà ngược lại với cách xưng hô, bà cư xử với chúng tôi hồi đó chẳng khác gì con cháu bà. Hôm nay, đứng trước bàn thờ bà, nhìn tấm hình bà mặc áo dài nhung tím mà cứ nhớ và thương cho tấm thân bé nhỏ tần tảo, chịu đựng của bà. Bà mất đã trên dưới 5 năm, tôi thầm nghĩ: có lẽ nghỉ làm việc rồi mình mới sở hữu thực sự những ký ức riêng tư bùi ngùi như vậy.

          Hán vẫn thế, khiêm tốn, chất phác lại pha chút chất quê quý giá vào con người của một cử nhân hành nghề giáo. Hán cũng đã 64 rồi, còn Nga em Hán cũng đã 60. Nhớ hồi nào khi Nga về thăm mẹ lại có anh bạn trai tên Thông người Nam bộ đi cùng. Ở nhà, hai người lúc nào cũng rúc rích và quấn quýt bên nhau, biểu hiện một sự ăn ý thành đôi. Ít lâu sau hai người cưới nhau và sau Giải phóng vào Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống. Trong những năm 1980 bà Phan cũng có thời sống cùng với gia đình Thông Nga ở Phố Nguyễn Trãi Quận nhất trong đó.

          Gặp nhau được một lúc, Hán gọi di động cho Nga để tôi nói chuyện. Tôi vẫn nhận ra cái giọng lúc nào cũng vui vui, hay khiêu khích ngày xưa. Anh Thông chồng Nga mất rồi, anh chăm sóc tận tình mẹ vợ nhưng lại mất trước cả bà. Nga thành bà góa với hai đứa con đã lớn.

 

Lại nói chút về làng.

          Làng nghèo nhưng gần đây được ngói hóa và "tầng hóa" khá nhiều. Nhiều gia đình có nhà mới khang trang do nhờ khởi sắc trong làm ăn, nhưng không ít nhà do phất lên từ xuất khẩu lao động mà có. Theo chị Đĩnh và vài ba người khác thì chính là nhờ công việc này bên nước ngoài mà khối nhà trở nên giàu sang.

          Dẫu sao với tôi Đông Phòng là ký ức gây xốn xang đến tận bây giờ. Nơi tôi thi tốt nghiệp và thành kỹ sư, nơi đầu tiên tôi hành cái nghề giáo 18 năm của mình, nơi tôi chính thức vào biên chế Nhà nước... Và không quên được, đó là nơi ở cái tuổi ngoài 20, cái hội chứng "đỏ mặt" vô lối cứ luôn làm tôi lúng túng và sau đó luôn là những cảm xúc kỳ lạ. Cái tuổi thanh xuân trong trắng của tôi hễ có sự gì bừng lên trên má là con tim lại sốn sang dồn dập. Không phải chỉ là tình cảm, cả đối với công việc cũng vậy.

          Nhớ ngày đầu đến Đông Phòng. Hôm ấy mưa dầm đề, tôi đạp xe đến đầu thôn thì nhà nào cũng đã lên đèn (dầu) rồi, cán sự lớp đưa tôi đến nhà cụ Miến. Muộn nên tôi ngủ ngay trên một phản tre ngoài hiên sát bậu cửa. Đêm mưa lạnh vì đã cuối tháng 9. Đạp xe ngược gió, đến nơi mệt quá, tôi ngủ một mạch, sáng ra gập chăn màn tôi đã thấy dưới gối có hai cái bánh lá còn âm ấm. Trong ngày hôm đó, tôi đoán được rằng một chị cùng lớp đã kín đáo làm cái việc xúc động này. Chị ấy đến thôn cùng với những tốp trước và đã bắt đầu học ôn thi. Chị hơn tôi hai tuổi, mất đã lâu nhưng cho tôi hiểu vỡ lòng hai chữ " Man mác"

          Cảm giác tuổi học trò rồi lại làm thầy sao mà quên được. Thầy trò không phân biệt được theo nghĩa tuổi tác. Cái thôn nghèo, đêm đêm đèn dầu leo lắt nhưng chưa ở đâu trong kỷ niệm lại trong sáng như vậy, tốt như vậy. Bây giờ cứ cố giải thích: Hay hồi đó thì phải tốt, bây giờ có quyền xấu. Xấu cũng là biểu thị và đồng hành của một cái mới nào đó? Không, quay về Đông Phòng mình thấy ở đó bây giờ cũng vẫn tốt. Người quen trong thôn không nhờ vả, quỵ lụy những người như mình khi đang làm việc, còn bây giờ nghỉ rồi, họ lại đối với mình như người xưa ấy. Thân thiết và nhân ái, không chút ích kỷ vụ lợi. Nghĩ vậy mà tôi có chút mừng cho đất nước.

          Tuy nhiên cũng phải nói thực tình rằng: Nước ta và riêng ở đó, chưa có thời nào người ta tốt như thời bấy giờ. Có thế mới thắng Mỹ được chứ. Có lẽ lũy tre làng đã đùm bọc mọi chòm xóm, giữ cho cái tốt không bay hơi. Nay tre làng không còn, không biết lấy gì mà che, mà giữ?

Chuyện tôi muốn viết thêm.

Anh Đĩnh mất ngày mùng 5 tháng 3 năm Đinh Dậu, theo Dương lịch nhằm ngày 01 tháng 4 năm 2017.  Tôi không biết ngày anh ra đi. Cũng lâu lâu không về Đông Phòng, hôm 29 tết vừa qua tôi gọi di động cho anh nhưng không thấy ai bắt máy, tôi gọi qua máy cố định ở nhà, nhưng bưu điện đều báo lỗi, thì ra lúc đó Hưng Yên đã đổi mã vùng được nửa năm rồi, Tôi định sau tết về Đông Phòng chơi, nhưng chưa kịp về đó thì anh mất. Hán báo tôi biết khi tôi gọi cho Hán vào đầu tháng 6 dương.

Cúng anh 100 ngày vừa rồi đúng vào rằm tháng 6 âm, tôi có về chiều hôm trước (Dương lịch là ngày 7 tháng 7) thắp hương cho anh. Chị Đĩnh chủ động báo tôi. Lần này tôi gặp chị Đĩnh mới Hà Nội về, tôi cũng gặp cháu Hoàng con thứ ba của anh chị, cháu đã 55, rắn rỏi, từng trải và nhìn đúng là dân lao động chân chất. Anh Đĩnh mất, chị Đĩnh lên Hà Nội ở với cháu đầu- cháu Huyền. Vợ chồng cháu nghe chị Đĩnh nói cuộc sống cũng khá.

Anh chị Đĩnh, Hán và tôi Xuân Ất Mùi 2015

Anh chị Đĩnh, Hán và tôi Xuân Ất Mùi 2015

Lần này, trước khi ra về, chị Đĩnh đưa tôi qua nhà Hán. Gặp Hán đang làm vườn. Thắp hương Bà Phan xong, tôi định ra về vì đã xế chiều thì Hán trèo cây cắt tặng tôi quả mít to đến 10 kg. Lúc chờ, tôi hỏi lại chị Đĩnh, giờ mới biết tên thật chị là Thấu. Tôi tò mò vì lúc tôi nói Hán là chị Đĩnh đã cho mít rồi thì Hán nói: Mít nhà em đặc biệt lắm em mới biếu, ngon hơn mít nhà chị Thấu.

Về Hà Nội, hai quả mít chín lần lượt, quả nào cũng thơm ngon, bổ ra chia cho mọi nhà anh chị em. Ai cũng tấm tắc khen.

Hương vị làng quê giữa mùa Hạ.

À, còn một việc nữa: chị Thủy đã mất được mấy năm. Tôi biết muộn nhưng đã về thắp hương chị.

Trường Thủy sản nay đã đổi tên đến 12 năm, nhưng trong tâm thức người Đông Phòng, hay rộng ra, người dân xã Ngọc Long hiện tại cái tên trường vẫn vậy, vẫn là Trường Đại học Thủy sản. Những năm sơ tán với chúng tôi là kỷ niệm khó quên, người dân ở đây luôn nhớ cái thời trường sơ tán về làng, nhà nào cũng có người Thủy sản đến ở lại. Lớp các cụ bà tuổi bây giờ trên dưới 70 ai cũng có những kỷ niệm với trường vì thời đó họ là thanh nữ. Lần về Đông Phòng này, khi tôi ra về, anh bạn lái xe hôm đó hỏi tôi tên một anh cùng thời. Anh lái xe kể tôi nghe có mấy cụ bà ngồi quanh giếng làng hóng mát, thấy anh, mấy bà đến hỏi chuyện lúc chờ tôi rằng: Có anh bạn nọ (nói tên hẳn hoi) từng công tác ở trường và từng yêu một chị thôn nữ trong làng thời đó. Chị (nay đã ngoài 70) sinh một con gái nay đã 50, người con gái này hiện cũng có gia đình và con cái, muốn hỏi xem anh ở đâu, không cần gì thêm ở anh, chỉ muốn nhận cha cho đỡ tủi khi về già, cho con cháu biết chị có bố, mà đến giờ bà mẹ già vẫn giấu. Nghe kể xong, tôi cũng vắt óc liên tưởng đến một người. Trường vào Nam khi tôi đi học (1977), sau tôi cũng không biết anh về đâu, giờ còn hay mất. Nếu còn thì giờ cũng đã ngoài tuổi 80. Anh em trường thời ở đó, ngoài anh ấy ra không biết còn ai đó nữa có kỷ niệm như vậy? Chuyện như vậy thời đó kỵ lắm, ai cũng giấu nhẹm, và nhớ rằng đó là kỷ niệm riêng, không phải của cả trường! Dù sao khi về tôi vẫn thấy nặng nặng trong lòng về câu chuyện này. Nặng vì người cũ trong làng vẫn nhắc đến trường sau từng ấy năm, nhưng nặng vì những chuyện như vậy không biết giúp cách nào.

Mấy dòng tản mạn về làng quê thời sơ tán - Phần 1 "Về Tiến Thắng"

Bài viết trước

Mấy dòng tản mạn về làng quê thời sơ tán - Phần 1 "Về Tiến Thắng"

Bài viết cùng chuyên mục